Mạng Internet và những gì nó đại diện với tốc độ phát triển nhanh chóng
đã ảnh hưởng rất lớn tới tốc độ suy nghĩ và hành động. Các nhà quản trị
ngày nay phải đối mặt với nhiều thách thức lớn, có thể dễ dàng chỉ ra
nhưng lại hoàn toàn không dễ vượt qua. Các điều kiện kinh doanh vốn quen
thuộc trước kia đã trở thành rào cản phát triển ví dụ như tái cơ cấu
doanh nghiệp.
Suy nghĩ chiến lược đã trở thành một cụm từ quen
thuộc hơn khi mà vấn đề tái cơ cấu doanh nghiệp đã mờ nhạt hơn và tính
hiệu quả của hoạt động kinh doanh đã hạ thấp. Nhưvậy thì chiến lược để
làm gì? Và CNTT có vị trí như thế nào để đạt được mục tiêu. Các nhà quản
lý ngày này đã lĩnh hội nhiều hơn tư tưởng coi CNTT là một công cụ
chiến lược. Tuy nhiên, ý tưởng chỉ tốt khi nó được sử dụng. Thậm chí tại
Mỹ, theo một cuộc điều tra năm 1996 có tới 85% công ty không sử dụng
công nghệ tiên tiến. Năm 1998, tại Anh, có tới 95% giám đốc thừa nhận
rằng họ không thành thạo các kỹ năng trên Internet.
Tuy nhiên,
CNTT tuy không còn mới mẻ nhưng vẫn là một công cụ vô cùng hữu ích để
phân tích các chiến lược về sản phẩm và khách hàng dựa vào chi phí, giá
sản phẩm hoặc so sánh giá. Tại hầu hết các công ty, những dữ liệu này có
ở một bộ phận nào đó trong tổ chức. Tuy nhiên, hầu như không có công ty
nào có thể nhanh chóng tìm kiếm và kết hợp được các dữ liệu này để phục
vụ quá trình ra quyết định. Các thông tin được thu thập và cung cấp
thông qua “kho dữ liệu” có thể giúp thay đổi toàn bộ doanh nghiệp. Chắc
chắn rằng điều này sẽ tiết kiệm được chi phí cho doanh nghiệp.
Tuy
nhiên những khoản tiền tiết kiệm được không phải là mục đích chiến lược
cuối cùng; kho dữ liệu tạo đà cho một mục tiêu chiến lược khác là thúc
đẩy sự phát triển cho cả tổ chức. Mục tiêu đó càng trở nên quan trọng
khi giá trị của cắt giảm chi phí trong dài hạn là không bền vững. Ví dụ
có một công ty của Anh không ngừng theo đuổi chiến lược chi phí thấp
trong ngành (cho dù họ không sử dụng từ “chiến lược”) bằng cách khai
thác tối đa công nghệ. Vì vậy họ đã thâu tóm và qua mặt được các đối thủ
cạnh tranh. Ví dụ trên cho thấy, mở rộng quy mô kinh doanh mới là giá
trị đích thực của chiến lược.
Công thức chiến thắng trên thị
trường là mở rộng số lượng khách hàng, tăng doanh thu trên từng khách
hàng trong khi giảm chi phí về vốn và các nguồn đầu vào khác. Cho đến
nay thì vấn đề tăng số lượng khác hàng và doanh thu quan trọng hơn
nhiều. Theo lời ông Jeffrey Rayport, giáo sư trường đại học Havard thì
“Các công ty đang dẫn đầu trong ngành đều có cơ chế tự động giảm chi
phí. Tiềm năng thực sự ở chỗ tập trung và tăng cường cho các mối quan hệ
khách hàng.” Điều đó đặt ra một thách thức thực tế cho các giám đốc
CNTT bởi vị họ có thể bị rớt lại phía sau trong các hành động nhanh
chóng mang tính chiến lược
Phát biểu của ông Rayport đã được
trích dẫn trong một bài báo trên tờ Business Week. Bài báo kết luận rằng
trong thiểu số những nhà lãnh đạo CNTT mới thì “giám đốc tài chính cấp
cao thường nổi lên với vai trò lãnh đạo trung tâm hơn là giám đốc thông
tin cấp cao”. Ví dụ tại tập đoàn Johnson & Johnson, giám đốc tài
chính cấp cao là người đứng sau xây dựng kho dữ liệu có tên Darwin. Đây
là một hệ thống tinh vi phức tạp cho phép các giảm đốc trên 50 quốc gia
có thể truy cập, sử dụng và phân tích khối lượng thông tin khổng lồ về
tất các khoản nợ và hàng tồn kho. Công ty sản xuất sản phẩm chăm sóc sức
khoẻ cũng thổng nhất lại việc tính lương tại một nơi, tiết kiệm gần 4/5
chi phí quản lý.
Những tiết kiệm như vậy thường dễ quyết định
hơn là thực thi. Các giám đốc quản lý CNTT hiện tại đang ở vị trí rất
thuận lợi: mặc dù vị trí này sẽ thuận lợi hơn nhiều nếu chính họ chứ
không phải là các khách hàng, chủ động yêu cầu tiết kiệm thông qua những
cải cách sâu rộng. Các giám đốc CNTT cũng cần phải nỗ lực hơn nhiều để
theo đuổi các cơ hội chiến lược vì CNTT đang thúc đẩy một sự thay đổi
mạnh mẽ về phương thức tiếp cận triển vọng phát triển của công ty.
Khai thác sự thay đổi lớn lao
Để
khai thác được sự thay đổi to lớn này, các giám đốc phụ trách CNTT cần
phải dẹp bỏ tự ái cá nhân để liên kết với các giám đốc bộ phận khác. Một
trong những trở ngại lớn nhất đối với bước đột phá chiến lược là tư
tưởng bài ngoại (tạm dịch - Not invented here factor). Ví dụ, một số
giám đốc phụ trách CNTT bị ảnh hưởng sâu sắc bởi tư tưởng này kiên quyết
chống lại việc tìm kiếm nguồn lực bên ngoài để trợ giúp, coi đó là hiểm
hoạ đối với tổ chức do dù hậu quả là làm chậm lại tiến trình phát triển
của công ty.
Trường hợp tồi tệ nhất là chiến lược CNTT mới được
thông qua nhưng lại thất bại. Điều này sẽ mở cửa cho các giám đốc phụ
trách các lĩnh vực khác lên nắm quyền điều hành. Những giám đốc này sẽ
đòi hỏi thông tin như là một công cụ để vạch và duy trì chiến lược. Ban
giám đốc không cần biết cụ thể về hệ thống quản lý cơ sở dữ liệu quan
hệ, phân tích xử lý trực tuyến, truy xuất dữ liệu v.v… nhưng cái họ muốn
là lợi thu được lợi tích tối đa từ công nghệ kho dữ liệu này.
Tiềm
năng của công nghệ mới đặt các doanh nghiệp trước một thách thức giống
như phương pháp của Nhật đã từng đặt ra trước đây cho các doanh nghiệp
phương tây. Cùng lúc đó, nhu cầu cần thiết của doanh nghiệp thay đổi
theo chiều hướng không có lợi đối với loại hình truyền thống. 2 nhân tố
này có mối quan hệ rất chặt chẽ với nhau. Giống như chiếc điện thoại,
công nghệ mới đã mở ra một phương thức làm việc khác hẳn.
Trước
khi chiếc điện thoại ra đời, liên lạc thường qua giấy tờ hoặc gặp mặt
trực tiếp. Các sàn giao dịch ra đời một phần vì nhiều người có thể tiếp
xúc trực tiếp với nhau. Đối với những người có chức tước cao lại cần làm
việc ở nơi kín đáo. Do vậy, các cuộc thảo luận trực tiếp vẫn rất cần
thiết trong khi những bức tường ngăn cách hạn chế tiếp xúc vẫn được dựng
lên. Nhưng hiện nay do sự phát triển của công nghệ, các thiết bị điện
tử đưa ra phương pháp mới để liên lạc tức thời tại bất kỳ nơi nào. Điều
thú vị là công nghệ mới xuất hiện đúng lúc làm việc theo nhóm đang thay
thế dần cách thức ra quyết định theo cá nhân. Không chỉ kết nối các bộ
phận rời rạc trong một văn phòng với nhau, công nghệ mới còn củng cổ
phương pháp làm việc cá nhân bằng cách đơn lập những nhân viên văn
phòng, vị trí càng cao thì sự biệt lập càng lớn.
Tuy vậy, biệt
lập đang phải nhường chỗ cho cộng tác. Giám đốc nào không nhận ra sự
thay đổi này sẽ bị thất bại giống như trước kia: trói chặt mình vào một
cách suy nghĩ và hành động mà không để ý đến những thay đổi bên ngoài.
Tốc độ phát triển của công nghệ rất nhanh dường như không thể dự đoán
được. Tuy nhiên, các phần cứng và phần mềm đang hiện diện ngay trong văn
phòng có thể trợ giúp các nhà quản lý nhanh chóng, tiện lợi và chính
xác hơn nhiều; và những nhiệm vụ hiện tại chưa thực hiện sẽ sớm được
hoàn thành.
Công nghệ mới sử dụng trong kinh doanh
Cuộc cách
mạng công nghệ bắt đầu diễn ra với biên độ lớn vào đầu thế kỷ 20. Lịch
sử công nghệ hỗ trợ kinh doanh được đánh dấu bởi sự xuất hiên của: điện
thoại và những công nghệ hỗ trợ như in, telex, băng giấy điện báo; máy
đánh chữ, máy photocopy; máy làm tính cộng và sau đó là máy tính điện tử
và cuối cùng là máy vi tính. Những công cụ này thay đổi hoàn toàn
phương thức làm việc trước kia nhất là trong quản lý ví dụ như hệ thống
thanh toán. Sử dụng hệ thống trao đổi dữ liệu điện tử, các công ty có
thể nhận đơn đặt hàng, giao hàng và thanh toán không cần đến giấy tờ ghi
sổ. Không ai sống và làm việc trong một công ty trên toàn thế giới lại
không bị ảnh hưởng bởi cuộc cách mạng này.
Năm 1992, 25% giao
dịch của Mỹ được thanh toán điện tử. Tới năm 2004, khi công nghệ giao
thức Internet kế tục, tỷ lệ này là 58%. Theo một tờ báo của Mỹ chẳng mấy
chốc mọi giao dịch sẽ được thực hiện qua Internet. Rõ ràng rằng, tốc độ
thay đổi công nghệ này đang diễn ra rất nhanh và tuỳ thuộc vào từng
ngành. Tuy nhiên, theo ông Percy Barnevik, tất cả các ngành đều chịu ảnh
hưởng bởi CNTT nhất là trong 2 vòng 2 thập kỷ gần đây.
Trong
cuộc đời làm kinh doanh, các nhà quản lý đã thấy sự chuyển đổi vô cùng
to lớn. Ban đầu là các máy tính trung ương và các máy trạm được viết
chương trình riêng còn nhiều hạn chế. Sau đó hàng loạt các bộ xử lý,
chương trình ứng dụng, hệ thống, máy tính để bàn, máy tính xách tay xuất
hiện để lựa chọn. Hơn nữa sự lựa chọn này cần phải được xem xét cẩn
thận bởi các máy móc đó có thể bị lạc hậu ngay khi vẫn đang sử dụng.
Suy nghĩ lỗi thời
CNTT
đang lan tràn khắp nơi buộc các doanh nghiệp phải thay đổi cho dù nhiều
nhà quản lý không hưởng ứng. Đối với nhiều người, công nghệ tiên tiến
không được xem là một cơ hội mà lại là hiểm hoạ. Do vậy không chỉ hệ
thống máy móc lỗi thời mà những suy nghĩ lạc hậu còn nguy hiểm hơn.
Những suy nghĩ như vậy làm nới rộng khoảng cách giữa lợi ích mà hệ thống
thông tin mang lại với những gì thực sự thu được. Tương tự giữa chiến
lược kinh doanh và kết quả hoạt động thực tế cũng có khoảng cách lớn.
Tuy vậy khoảng cách giữa chiến lược và kết quả chắc chắn sẽ thu hẹp đáng
kể khi khoảng cách về thông tin cũng được thu hẹp. Nhưng đây không phải
là vấn đề hô hào hay khẩu hiệu mà phải được thực hiện.
Các giám
đốc cấp cao thường quá chú ý tìm kiếm những ý tưởng thay thế mà quên mất
đối tượng chính phải thay đổi là hành vi. Điều này lại chịu ảnh hưởng
của những điều kiện bên ngoài không kiểm soát được. Nếu người được phân
quyền thực hiện một nhiệm vụ nào đó nhưng họ lại chỉ được cung cấp những
thông tin hay công nghệ lạc lậu thì họ sẽ không thể làm gì để cải thiện
những điểm yếu của mình. Điều đó có thể là lỗi trực tiếp của bộ phận
CNTT. Tuy nhiên, lỗi sâu xa hơn nằm ở cấp cao hơn. Nếu một giám đốc cấp
cao và những người trong ban lãnh đạo thấy ngần ngại đối với CNTT, làm
việc theo nhóm, quá trình ra quyết định được chia sẻ thì sẽ không bao
giờ có cuộc cách mạng trong doanh nghiệp. Muốn đưa một chương trình CNTT
vào doanh nghiệp, điều cần thiết không chỉ là cam kết của những người
đứng đầu mà họ còn phải thực sự tham gia vào quá trình đó từ đầu đến
cuối.
Giám đốc điều hành Peter Sole nhấn mạnh rằng, quá trình
phát triển kinh doanh từ tương đối ổn định tới thay đổi liên tục và tạm
ngừng đòi hỏi một sự thay đổi về trọng tâm chiến lược và phong cách lãnh
đạo. Nó cũng ngụ ý rằng CNTT phải được sử dụng theo cách khác nhau và
bộ phận hệ thống thông tin có vai trò khác biệt. Bộ phận này phải chung
sống với những thay đổi không ngừng – bao gồm cả chịu đựng lẫn sử dụng
những thay đổi đó. Điều đó cho thấy CNTT là mũi nhọn trong quá trình cải
cách do dù ban lãnh đạo có thông qua chiến lược gì đi chăng nữa.
Hiện
tại, có khá nhiều nhà quản lý hệ thống thông tin để thực hiện chiến
lược CNTT như các nhà quản lý cơ sở hạ tầng, môi giới thông tin. Tất cả
họ đều trở nên hoà nhập với công việc kinh doanh. Đây chính là chìa khoá
cho toàn bộ quá trình đổi mới. Cuộc cách mạng đó dựa trên việc tích hợp
toàn bộ các quy trình và những người đứng đầu mỗi quy tình đó. CNTT
chiếm vị trí tối quan trọng do cung cấp phương tiện để liên kết các quy
trình với nhau.
Mạng, phần mềm nhóm, Website, mạng Intranet và
Extranet sẽ thúc đẩy sự thay đổi đáng kể. Tuy nhiên mục tiêu chính vẫn
là hướng sự đổi mới đó theo chiều hướng tích cực. Các nhà lãnh đạo đều
nhận thấy yêu cầu đó nhưng để chuyển từ ý tưởng đến hiện thực không phải
chuyện một sớm một chiều.